Việt Nam Diễn Nghĩa Tập 1 - CHƯƠNG VII - Phần I : BA HỌ ANH HÙNG (KHÚC - DƯƠNG - NGÔ)

 

I

Năm 589, nhà Tùy tiêu diệt nhà Trần, kết thúc cục diện Nam-Bắc triều ở Trung Quốc. Giao Châu lại thuộc nhà Tùy thống trị. Năm 617, Lý Uyên tiêu diệt nhà Tùy, thiết lập nhà Đường. Giao châu lại thuộc nhà Đường thống trị từ 617 đến năm 905. Nhà Đường gọi Giao Châu là An Nam đô hộ phủ, sau còn gọi là Tĩnh Hải Quân đứng đầu là Tiết độ Sứ. Dưới phủ là châu, dưới châu là huyện, dưới huyện là hương, dưới hương là xã, dưới xã là làng, bản ( miền núi). Toàn bộ An Nam đô hộ phủ có 12 châu, 59 huyện, trong đó có những châu lớn như Phúc Lộc Châu, Hoan Châu, Diễn Châu, Ái Châu, Trường Châu, Phong Châu, Hồng Châu, Giao Châu, Lục Châu, Thang Châu, Chi Châu, Vũ Nga Châu và hàng chục châu nhỏ ở miền núi gọi là châu ki mi. Trị sở của An Nam đô hộ phủ là thành Đại La, nơi ở và làm việc của  Tiết độ Sứ. Chính quyền nhà Đường ở An Nam đô hộ phủ vẫn thi hành chính sách đàn áp, bóc lột đồng hóa nặng nề như các triều đại Hán, Đông Ngô, Tấn, Lương, Tùy.

Vào thế kỷ thứ IX, nhà Đường bước vào thời kỳ suy tàn đổ nát bởi quan trường thối nát, bóc lột nông dân vô hạn độ. Chính vì thế, năm 874 đến năm 884, Hoàng Sào đã lãnh đạo nông dân nổi dậy. Chiến tranh loạn lạc càng đẩy nhà Đường vào con đường suy yếu bất lực trong việc cai trị các thuộc địa, như không thể bảo vệ cho An Nam. Năm 862 đến năm 863, nước Nam Chiếu của người Thái ở Tây Bắc An Nam đã đem 50 vạn quân xâm lược và chiếm phủ thành Đại La. Các hào trưởng người Việt đã phải tự tổ chức chống lại giặc Nam Chiếu để bảo vệ bách tính. Trong sự suy yếu của nhà Đường đã tạo điều kiện cho các thế lực các hào trưởng Việt vươn lên và phát triển. Họ đã thành những lá cờ dẫn dắt nhân dân trên con đường đấu tranh giành quyền tự chủ độc lập. Tiêu biểu trong số đó là họ Khúc  ở Hồng Châu.

Vào một đêm thượng tuần tháng 7 năm 905, ở đất Hồng Châu  thuộc An Nam đô hộ phủ, tất cả chìm trong bóng đen mênh mang mịt mờ. Gió đêm từ sông Luộc, sông Kinh Thầy thổi về mát rợi làm dịu bớt cơn nắng gắt ban ngày của mùa hè oi bức. Nghìn cây xanh đủ loại bao phủ làng xóm lắc lư theo chiều gió, phát ra những âm thanh xạc xào. Những ánh sáng hắt ra từ những ngọn đèn dầu từ các cư gia le lói trong đêm. Bầu trời thẫm như màn nhung đen điểm những vì sao như những viên kim cương lấp lánh xa vời. Xa xa vang lên những tiếng chó sủa mơ hồ lan ra trong đêm trường thanh vắng.

Trang Cúc Bồ, Ninh Giang, Hồng Châu cũng chìm trong màn đêm tĩnh mịch. Cái khác là nơi đây ánh sáng phát ra từ nhiều ngọn đèn dầu hắt ra rực rỡ, xua bớt màu đen của đêm làm cho phong cảnh hiện rõ hơn. Những rặng tre nặng lá dày đặc đung đưa xạc xào. Những cây cau cao vút nhô lên không trung với những bẹ lá to lớn lắc lư. Những cây mít đang mùa trái chín, nhãn như rừng đang mùa ra quả. Đất Hồng Châu nổi tiếng vải ngon đến mức nhà Đường phải bắt nộp cống vải cho vua Đường. Núp dưới những tán cây đó là những ngôi nhà lợp ngói xây gạch khang trang với màu tường vôi đã xám theo thời gian. Đó là dinh cơ của hào trưởng họ Khúc, hào trưởng nhiều đời đất Hồng Châu giàu có và thế lực nổi tiếng khắp xứ Đông. Tiếng tăm của dòng hào trưởng này lan cả sang thành Đại La, vùng Phong Châu, Ái Châu, Hoan Châu và các châu huyện khác.

Đêm nay trong căn phòng lớn của tư dinh có bốn ngọn đèn dầu lạc ở bốn góc nhà, ánh sáng soi rõ sự sang trọng, cổ kính của căn phòng, những cây gỗ lim bóng loáng to một người ôm làm trụ cột. Gian giữa sát tường nhà kê bàn thờ gia tiên họ Khúc, có một bàn thờ lớn và nhiều bàn nhỏ sơn son thếp vàng chạm khắc tinh vi lấp lánh. Lư hương và bài vị cũng sơn son thếp vàng. Chính giữa nhà kê bàn gỗ lim, hai bên bàn kê hai chiếc ghế tràng kỷ. Bàn và hai ghế cũng chạm khắc hoa văn cầu kỳ. Màu gỗ của bàn ghế dùng lâu năm đen bóng. Trên bàn đặt bộ ấm chén uống trà xanh màu nâu bóng. Có ba người đang ngồi đối diện nhau, giữa là chiếc bàn. Gia nhân rót ba bát nước chè xanh nóng cho ba người rồi chắp tay đứng vào góc nhà. Người ngồi bên hữu là Khúc Thừa Dụ, người kế thừa chức hào trưởng của tổ tiên họ Khúc. Khúc Thừa Dụ khoảng 65 tuổi, mặt vuông, hai tai dài, đầu buộc khăn thếp, mình mặc áo dài lụa đen, đôi lông mày rậm, đôi mắt quắc thước, bộ râu đen oai nghi như ông thầy đồ Nho nhưng nghiêm khắc. Ngồi đối diện với Khúc thừa Dụ có hai người, một người là Khúc Hạo, con trai của Khúc Thừa Dụ. Khúc Hạo là một trung niên khoảng bốn mươi tuổi, mặt hơi dài, miệng rộng, mắt lấp lánh thông minh, mặc chiếc áo dài màu nâu, đầu chít khăn cũng màu nâu, tay bê nước uống, tay cầm quạt mo phe phẩy xua tan đi cái nóng của tối mùa hè. Người thứ hai ngồi cạnh Khúc Hạo là Dương Đình Nghệ, khoảng 36 tuổi, một hào trưởng quê ở Dương Xá, làng Giàng, Ái Châu (nay là Thanh Hóa). Dương Đình Nghệ người cao lớn, mặt hơi tròn và quắc thước, dáng hào kiệt. Ông mặc áo dài xanh, chít khăn xanh. Ông là gia tướng cũng là khách của Khúc Thừa Dụ. Đương Đình Nghệ từ Ái Châu ra đây để cùng mưu việc lớn với Khúc Thừa Dụ. Khúc Hạo hỏi Khúc Thừa Dụ:

-Thưa cha, nhà Đường hiện nay cực kỳ mục ruỗng và suy yếu, không thể quản lý được Tĩnh Hải Quân. Cha định liệu thế nào trong việc giành lấy chính quyền vào tay?

Khúc Thừa Dụ uống một ngụm nước rồi nói:

-Con nói đúng, hiện nay vua Đường Chiêu Tông chỉ là hư vị, toàn bộ quyền hành nằm trong tay tể tướng quyền thần Chu Ôn (Chu Toàn Trung). Nhưng cả Đường Chiêu Tông và Chu Ôn cũng không thể khống chế được bọn quân phiệt địa phương. Ngay cả An Nam Đô hộ phủ, Tiết độ sứ Độc Cô Tổn dù rất tàn ác, được bách tính gọi là “Ngục Thượng thư”, quyền hành cũng không vượt quá thành Đại La. Ở các địa phương, quyền hành đã lọt vào tay các hào trưởng người Việt. Nhưng các hào trưởng người Việt lúc này cũng chưa ai dám vùng dậy, dành lấy quyền lực cao nhất là Tiết độ sứ vào tay mình.

Khúc Hạo hỏi:

-Vì sao vậy thưa cha?

Khúc Thừa Dụ đáp:

-Con phải học tập hơn nữa để có con mắt nhận định thời thế, đặc biệt là trong thời loạn lạc để có quyết định đúng đắn hợp thời cơ mới mong có thắng lợi. Nhà Đường tuy suy yếu nhưng quốc gia chưa lâm vào thế tan rã, chưa phát triển thành cục diện cát cứ tranh hùng giữa các thế lực. Thứ nữa, ở An Nam đô hộ phủ vẫn còn tồn tại Tiết độ sứ của nhà Đường. Vậy cả thời cuộc ở Trung Quốc và thời cuộc ở An Nam chưa tạo được thời cơ thật chín muồi để chúng ta nắm lấy chính quyền.

Đương Đình Nghệ nói:

-Vậy thưa chúa công, khi nào thì các hào trưởng người Việt mới nắm lấy chức Tiết độ sứ, giành chính quyền để giành quyền độc lập?

-Khúc Thừa Dụ đáp:

-Đây là vấn đề cực kỳ quan trọng cho đất nước và cho vận mệnh dân tộc, cho nên ta đã suy nghĩ và nung nấu lâu rồi. Chỉ khi nào Trung Quốc chia cắt thành nhiều nước, chính quyền thống nhất nhà Đường sụp đổ, hoặc là khi ở An Nam Đô hộ phủ không còn Tiết độ sứ, chúng ta sẽ nắm lấy chức vụ hành chính cao nhất đó nhưng vẫn xưng là Tiết độ sứ, mềm dẻo về sách lược để không bị chúng đàn áp. Chờ khi nước ta đã hùng mạnh rồi thì mới có thể xưng vương xưng đế.

 Dương Đình Nghệ gật gù tán thưởng:

-Chúa công thật là sáng suốt. Đó là một sách lược hay.

Khúc Hạo hỏi:

-Hiện nay ở An Nam Đô hộ phủ có rất nhiều thế lực của các hào trưởng ở các địa phương, nếu như có thời cơ như cha vừa nói, cha có quyết tâm vào Đại La nắm lấy chức Tiết độ sứ, hay là tôn phò một hào trưởng nào đó lên.

Dương Đình Nghệ nói:

-Cứ như mạt tướng xem xét thì hiện nay chỉ có thực lực của chúa công mới có thể làm nổi công việc này. Các hào trưởng khác hiện nay chưa ai đủ thế lực. Cho nên khi có thời cơ chúa công nên phất cao lá cờ chính nghĩa vì giang sơn và vì bách tính.

Khúc Thừa Dụ nói:

-Đúng là nói thế và lực hiện nay chúng ta mạnh hơn các hào trưởng khác. Vì thế ta đã được hầu hết các hào trưởng, anh hùng hào kiệt các châu ủng hộ, chỉ chờ ta kêu gọi là họ về ứng nghĩa. Vả lại, giành chức Tiết độ sứ không phải là mưu lợi cho bản thân cho gia đình, cho dòng họ mà phải vì quyền lợi của bách tính, vì giành quyền tự chủ độc lập cho dân tộc, tức là phải vì nước, vì dân thì mới làm được.

Khúc Thừa Dụ dứt lời. Tiếng trống cầm canh của trang Cúc Bồ đã điểm canh hai, mọi ngươi đang định đi nghỉ thì một gia nhân vào báo:

-Dạ, bẩm chúa công, có thám mã từ Đại La về muốn gặp.

Khúc Thừa Dụ nói:

-Cho vào!

Người thám mã bận quân phục màu nâu mang gia huy của họ Khúc bước vào:

-Dạ bẩm chúa công, Tiết độ sứ Độc Cô Tổn của nhà Đường không cùng bè cánh với  quyền thần Chu Ôn nên bị triệu hồi về Hải Nam và bị giết chết. Thành Đại La không có Tiết độ sứ, quan viên và quân sĩ người Hán đang như rắn mất đầu. Tư mã Đặng Thiềm Âu đang lúng túng. Thành Đại La đang đại loạn ạ.

Khúc Thừa Dụ nói với Dương Đình Nghệ:

  -Thời cơ đã đến rồi. Tướng quân hãy cho nổi trống tập hợp 5000 võ sĩ của ta đang ở trang Cúc Bồ, mang theo vũ khí, chiêng trống và cờ. Trước tiên cho quân tiến về trang Lỗ Xá để tập hợp thêm các anh hùng hào kiệt về tụ nghĩa, sau đó tiến về Đại La.

  Dương Đình Nghệ đáp:

-Mạt tướng tuân lệnh.

  Khúc Thừa Dụ nói với Khúc Hạo:

-Con ra chuẩn bị lương thực đưa xuống thuyền, chuẩn bị chiến thuyền để có thể hành quân theo đường sông Luộc về sông Hồng để nhanh chóng về Đại La.

-Dạ tuân lệnh cha.

Ngay trong đêm đó, những hồi trống cái thúc những hồi ngũ liên dồn dập vang động không gian của trang Cúc Bồ. Không đầy một canh giờ, trên một bãi rộng, 5000 võ sĩ tay cầm những bó đuốc cháy rần rật, tay cầm vũ khí, lưng đeo nặng cung tên nhanh chóng tập hợp theo biên chế quân ngũ. Ánh vũ khí kiếm, dao, giáo, búa…sáng loáng do ánh lửa bập bùng phản chiếu vào. Người nào không cầm đuốc thì cầm cờ màu vàng, giữa có chứ “Khúc” hoặc chữ “Ứng Nghĩa” màu đen to đậm. Những lá cờ bay phấp phới trong gió nam đêm hè hắt ra  màu vàng rực rỡ bay phần phật như reo vui.

Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Dương Đình Nghệ và nhiều tướng lĩnh khác mang quân phục nâu, áo giáp đồng, tay cầm vũ khí, lưng mang cung tên cưỡi ngựa đứng trước hàng quân. Khúc Thùa Dụ nói:

-Thưa các tướng lĩnh, thưa các chư vị, thưa các nghĩa binh. Nước Nam ta từ hơn 1000 năm nay chịu sự thống trị tàn bạo của ngoại bang Trung Quốc. Nay nhà Đường là kẻ thống trị nước ta đã suy yếu không thể quản lý nổi An Nam đô hộ phủ, Tiết độ sứ tàn ác là Độc Cô Tổn đã bị tể tướng nhà Đường là Chu Ôn gọi về nước. Thành Đại La bây giờ vô chủ. Đây là thời cơ để  chúng ta giành quyền tự chủ và độc lập. Nay nhiệm vụ của ta là phải tiến đánh Đại La, cử Tiết độ sứ là người Việt để giành lại giang sơn xã tắc. Ta ra lệnh xuất phát!

Khúc Thừa Dụ dứt lời, 5000 võ sĩ đồng thanh hô vang như sấm chấn động cả một vùng Cúc Bồ:

-Chiếm Đại La

-Chiếm Đại La!

  Khúc Thừa Dụ nói tiếp:

-Ta ra lệnh các võ sĩ xuống thuyền về Lỗ Xá để hội quân với các anh hùng hào kiệt ứng nghĩa rồi từ đó tiến về Đại La!

-Xin tuân lệnh chúa công.

5000 quân rầm rộ tiến ra bến sông Dầm và sông Cầu Ràm là những chi nhánh của sông Thái Bình rồi đi theo sông Hồng, hội quân ở chợ Rằm. Đêm đó sông Dầm và sông Cầu Ràm nổi sóng bởi hàng trăm con thuyền gỗ và thuyền nan tre được những mái chèo khỏe mạnh rẽ nước chèo như bay về Lỗ Xá ( Cẩm Giàng, Hồng Châu). Tại Lỗ Xá, thêm 5000 thanh niên trai tráng từ các nơi tham gia vào đội quân tiến đánh thành Đại La. Nhiều anh hùng hào kiệt cũng về ứng nghĩa, trong đó có hào trưởng nổi tiếng Đường Lâm là Ngô Mân. Nghĩa quân còn bổ sung thêm vũ khí, lương thực vì Lỗ Xá là nơi rèn dao kiếm nổi tiếng từ xưa. Trong đêm hội quân, hàng nghìn tráng sĩ đèn đuốc sáng trưng như ban ngày, vũ khí cung tên đầy mình hoành tráng, khí thế dũng mãnh. KhúcThừa Dụ chia quân làm hai đạo, một đạo dùng thuyền đi từ các con sông nhỏ và ngược sông Hồng về Đại La, đạo hành quân bộ đi theo vùng phố Nối khoảng 50 dặm để vào Đại La.

Đêm 15 tháng 7 năm 906, thành Đại La chìm trong những rặng cây xà cừ, cây phượng, cây bàng. Chỉ khác là trong đêm rằm nên ánh trăng rải ánh sáng loang lổ xuống muôn cây, bàng bạc trên những mái nhà, trắng xóa trên những mái nhà cổ kính có từ hàng trăm năm nay. Gió đêm hè đung đưa lá cây xào xạc, phơ phất dưới ánh trăng. Dòng sông Hồng mênh mông trong đêm vẫn lững lờ đổ nước về Đông, nước lấp lánh xa mờ trong đêm tĩnh mịch. Vài con thuyền đi ngược về phương Bắc và đi xuôi về hướng Đông trong cuộc mưu sinh gian khó trên sông nước.

Do không có Tiết độ sứ nên thành Đại La như vô chủ. Quan và  quân binh hết sức lo lắng. Quan Tư mã Đặng Thiềm Âu phụ trách về quân sự suốt ngày lo lắng và chìm trong rượu chè và đánh đập lính tráng. Hắn buồn bả và lo lắng cho sự đổ nát của nhà Đường.

Trong đêm nay như thường lệ, tên lính gác mở cổng thành cho 20 tên lính đi tuần tra hết phiên trở về thành, rồi 20 tên lính khác lại đi tuần tiếp. Tốp lính đi đến đoạn đường bị cây cối che lấp ánh trăng, tối mù mịt thì bất ngờ bị 40 người xông ra dùng khăn có thuốc mê bịt miệng. 20 tên lính chỉ ú ớ và ngất xỉu gục xuống. 40 người kia lập tức lột quân phục, vũ khí và mặc vào cho 20 người. 20 người biến thành lính Hán đi tuần phòng và lát sau họ quay về. Những tên lính gác cổng không chút nghi ngờ, mở cổng thành cho 20 lính Hán giả vào thành. Phút chốc hai tên lính gác cổng thành bị giết, cửa thành mở toang. Một hồi trống nổi lên. Hàng nghìn quân Việt mai phục quanh Đại La tràn vào thành đánh giết. Tiếng Loa từ miệng của những người lính Khúc Thừa Dụ vang lên bằng tiếng Việt và tiếng Hán:

-Đây là quân lính của hào trưởng Khúc Thừa Dụ. Thành Đại La đã mất. Tất cả quân lính kể cả người Hán nếu buông vũ khí đầu hàng sẽ được toàn tính mạng và được cho về nước. Loa… Loa…

Sau tiếng loa, quân lính trong thành Đại La đều buông vũ khí và những cuộc hỗn chiến chém giết đã không diễn ra. Trận đánh thành lớn và quan trọng mà chỉ diễn ra nửa canh giờ và chết 100 lính Hán do chúng chống cự. Quan Tư mã Đặng Thiềm Âu bị bắt trong trạng thái say xỉn. Cư dân Đại La và quân sĩ người Việt vô cùng vui mừng. Tiếng trống, tiếng chuông trong các chùa chiền vang lên khắp Đại La. Đuốc lửa sáng rực thành như ban ngày. Những lá cờ vàng viết chữ “Ứng Nghĩa” và chữ “Khúc” màu đen bay rợp trời. Trong khi đó, Khúc Thừa Dụ tiến vào từ cửa Đông, Khúc Hạo tiến vào từ cửa Tây, Dương Đình Nghệ tiến vào từ cửa Nam thì Ngô Mân, hào trưởng Đường Lâm  tiến vào từ cửa Bắc. Khúc Thừa Dụ cùng những người vệ sĩ của mình tiến vào sảnh đường của thành Đại La, là nơi ở và làm việc của Tiết độ sứ, gia đình Tiết độ sứ và tướng lĩnh tùy tùng thân cận, là nơi quyền lực cao nhất của nhà Đường ở An Nam đô hộ phủ. Nơi công đường của Tiết độ sứ cực kỳ xa hoa lộng lẫy, choáng lộn cột và bàn  ghế sơn son thếp vàng, khảm trai. Trên các bàn trang trí sừng tê giác, ngà voi, ngọc trai, đồi mồi. Nhìn kỹ thì nó tượng trưng cho máu và nước mắt của bách tính An Nam đúc thành, minh chứng cho sự thống trị, bóc lột tàn bạo của bọn thống trị phương Bắc đối với An Nam.

Khúc Thừa Dụ ngồi vào ghế Tiết độ sứ mạ vàng đặt trên nền cao. Bên dưới có hai hàng bàn ghế giành cho quan viên văn võ của phủ Tiết độ sứ. Khi đó một người lính chạy vào báo:

-Bẩm chúa công, đã bắt được Tư mã của thành Đại La Đặng Thiềm Âu, xin chúa công định đoạt.

  Khúc Thừa Dụ nói:

-Cho dẫn vào!

  Hai người lính dẫn Tư Mã Đặng Thiềm Âu vào. Đó là một người Hán cao lớn bị trói, dáng võ biền nhưng không mặc võ phục. Trông thấy Khúc Thừa Dụ, Đặng Thiềm Âu liền quỳ xuống:

-Bỉ chức Đặng Thiềm Âu, Tư mã của phủ Tiết độ sứ. Bỉ chức nghe đại danh của chúa công đã lâu. Nay bỉ chức đã ở trong tay chúa công, xin chúa công tha mạng.

  Khúc Thừa Dụ nói:

-Cởi trói cho quan Tư mã!

  Một người lính cỡi trói cho Đặng Thiềm Âu. Khúc Thừa Dụ hỏi:

-Sao nhà ngươi không tổ chức binh sĩ chiến đấu chống lại khi ta tấn công thành?

-Bỉ chức lo buồn cho sự tan rã của triều Đường bên chính quốc. Từ khi Tiết độ sứ Độc Cô Tổn bị triệu hồi và bị giết hại, bỉ chức lo cho số mạng của bỉ chức sắp tới không rõ thế nào nên bỏ bê công việc.

Khúc Thừa Dụ nói:

-Ngươi đã đầu hàng, không chống cự quân ta. Ngày mai, ngươi và những quân sĩ người Hán sẽ được lên đường về nước, đoàn tụ với gia đình.

Đặng Thiềm Âu rập đầu:

-Xin đa tạ chúa công.

Khúc Thừa Dụ ra lệnh:

-Đưa Tư mã và những binh sĩ người Hán vào một nơi cho ăn uống nghỉ ngơi và cho canh phòng nghiêm ngặt. Sáng mai sẽ cho quân ta hộ tống rút về bên kia biên giới

-Dạ.

  Khúc Thừa Dụ bảo gia nhân:

-Đi tìm các tướng Khúc Hạo, Dương Đình Nghệ, Ngô Mân về đây bàn những việc quan trọng cấp bách của đất nước.

-Dạ.

Lần lượt các tướng Dương Đình Nghệ, Ngô Mân, Khúc Hạo bước vào. Tất cả đồng thanh:

-Dạ bẩm chúa công.

Khúc Thừa Dụ đáp lễ:

-Mời các tướng quân ngồi.

-Đa tạ chúa công.

Sau khi mọi người đã an tọa, Khúc Thừa Dụ nói:

-Nay chúng ta đã giành được chính quyền về tay người Việt, việc cốt tử nhất là phải bảo vệ củng cố vững chắc nền độc lập, tự chủ, muốn làm được như vậy phải cải cách, củng cố chính quyền để cho chính quyền thực sự là của người Việt, thực hiện một nền chính trị thân dân.

-Thứ nhất, nước là phải có chủ, người xưa đã nói nước một ngày không thể không có vua, tức là nước phải có người đứng đầu để điều hành đất nước, ra hiệu lệnh, pháp lệnh cho bách tính, cho quan lại các cấp. Chúng ta có thể xưng vương, xưng đế. Nhưng trong tình hình hiện nay, thực lực của ta chưa mạnh, đề phòng nhà Đường đem quân đàn áp thì ta nghĩ chỉ nên xưng là Tiết độ sứ là một chức quan của nhà Đường để nhà Đường thừa nhận, tránh được nạn binh đao mà vẫn giữ được chủ quyền của đất nước.

-Thứ hai là phải cải cách bộ máy cai trị, bãi bỏ những quan chức từ Châu trở xuống huyện mà người Hán còn nắm giữ, cử các hào trưởng người Việt thay thế vào các chức vụ đó. Ở tất cả các cấp châu, huyện, giáp, xã, dù là người Việt nhưng nếu là quan tham nhũng, cường hào ác bá bóc lột bách tính  thì cũng bãi miễn. Quan lại là người Việt nhưng phải có tài đức, phải tuyệt đối vì bách tính, vì nước và trung thành với Tiết độ sứ mới.

-Thứ ba là cử ngay một đoàn sứ bộ sang Lạc Dương đề đạt nhà Đường công nhận ta là Tiết độ sứ, chủ yếu là để hòa hảo về mặt ngoại giao. Nếu họ không công nhận thì quan hệ ngoại giao sẽ căng thẳng. Trong tình hình hiện nay của nhà Đường, họ không có khả năng dùng quân đội hộ tống một Tiết độ sứ người Hán sang áp đặt. Nhưng chúng ta không được chủ quan, phải chuẩn bị quân đội mạnh để sẵn sàng đối phó. Lưu ý ta muốn hòa bình, không muốn chiến tranh nhưng chiến tranh nổ ra hay không lại không thuộc ta.

  -Đó là những chủ định của ta.Các tướng quân thấy thế nào?

Khúc Hạo nói:

-Thưa cha, kế sách của cha là vẹn toàn để xây dựng nền tự chủ, độc lập cho đất nước. Ngoài những kế sách đó con nghĩ không còn kế sách gì hay hơn trong tình hình hiện nay.

Dương Đình Nghệ tiếp lời Khúc Hạo:

-Nhà Đường hay bất cứ triều đại nào khác của Trung Quốc dù hưng thịnh hay đang suy yếu, dù lớn hay nhỏ thì không bao giờ họ muốn mất An Nam. Nhưng trong tình hình suy yếu hiện nay, nhà Đường dù muốn cũng không thể nào cắt cử được một Tiết độ sứ sang cai trị. Cho nên chúa công chỉ xưng là Tiết độ sứ khiến nhà Đường lầm tưởng An Nam đô hộ phủ vẫn còn thuộc Lạc Dương, điều đó có lợi cho ta, ta có thời gian xây dựng phát triển kinh tế quốc phòng, xây dựng chính quyền độc lập. Tôi chỉ xin chúa công cho giảm bớt sưu thuế, lao dịch đóng góp quá nặng nề thời Bắc thuộc, khoan dung cho dân được no ấm yên vui. Dân hoàn toàn tin theo chúa công thì cơ nghiệp nghìn năm sẽ bền vững, không sợ một thế lực ngoại bang nào.

Ngô Mân nói:

-Nên có cáo thị việc chúa công làm chức Tiết độ sứ và những quyết sách để quan chức thi hành và bách tính yên vui.

Tin Khúc Thừa Dụ, hào trưởng đất Hồng Châu nổi tiếng nhân từ, nghĩa hiệp chiếm được thành Đại La, xưng là Tiết độ sứ và sẽ thi hành nhiều chính sách thân dân lan truyền khắp các châu, huyện trong An Nam đô hộ phủ làm bách tính An Nam hết sức vui mừng, các hào trưởng, các anh hùng hào kiệt, các quan chức các cấp từ châu trở xuống đều ủng hộ. Họ tin với con người tài năng, đại nghĩa đã nổi tiếng từ lâu sẽ mang lại độc lập tự chủ cho cho nước nhà, mang lại cuộc sống no ấm yên vui cho bách tính. Họ tin, họ Khúc sẽ mở ra thời kỳ độc lập lâu dài cho đất nước.

Similar Movies

0 nhận xét: